Ngày đưa:  21/10/2014 02:16:50 PM
Về lĩnh vực kinh tế:
- Tổng giá trị sản xuất các ngành (theo giá so sánh năm 2010) ước thực hiện đến 2015 là 216.346 triệu đồng(1), tăng 37,5% so với năm 2011; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 8,29%, đạt 100% so với Nghị quyết (Nghị quyết 8-9%); trong đó: cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 27,4%; công nghiệp xây dựng chiếm 33,5%; thương mại, dịch vụ chiếm 39,1%.
- Cơ cấu kinh tế theo giá hiện hành: nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 29,66%, công nghiệp xây dựng chiếm 31,45%, thương mại-dịch vụ chiếm 38,89%.
- Thu nhập bình quân đầu người ước đạt đến năm 2015 là 9,47 triệu đồng/năm, đạt 157,8% so với Nghị quyết (Nghị quyết 5-6 triệu đồng/người/năm).
1. Về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: Giátrị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) ước thực hiện đến năm 2015 đạt 59.234 triệu đồng, tăng 16,62% so với năm 2011; bình quân hàng năm đạt 54.514,4 triệu đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 3,91% và chiếm tỷ trọng 27,4% trong cơ cấu kinh tế, trong đó:
a) Về sản xuất nông nghiệp
 Trồng trọt:
- Diện tích lúa nước gieo cấy ước thực hiện đến năm 2015 đạt  660ha, năng xuất bình quân đạt 38,9 tạ/ha, sản lượng đạt 2.556 tấn, tăng 79% so với năm 2011; diện tích lúa rẫy hàng năm gieo trồng 300ha (giảm 200ha so với năm 2011), năng xuất bình quân đạt 13 tạ/ha, sản lượng đạt được 390 tấn. Tổng sản lượng lúa thu hoạch bình quân mỗi năm 2.956 tấn (tăng 49% so với năm 2011).
- Cây ngô diện tích bình quân gieo trồng hàng năm là 320 ha (tăng 25ha so với năm 2011), năng xuất bình quân đạt 28 tạ/ha, sản lượng đạt 896 tấn, tăng 14,6% so với năm 2011.
Tổng sản lượng lương thực bình quân có hạt 3.852 tấn, đạt 105,5% chỉ tiêu Nghị quyết (Nghị quyết 3.650 tấn), tăng 39,3% so với năm 2011. Tổng sản lượng lương thực có hạt giai đoạn 2011-2015 đạt 15.126 tấn. Bình quân lương thực đầu người đạt 200,2 kg/năm, đạt 100,1% chỉ tiêu Nghị quyết (Nghị quyết 200 kg/người).
- Các loại cây trồng khác: rau các loại diện tích 160 ha, năng xuất bình quân đạt 80 tạ/ha, sản lượng đạt 1.276 tấn; đậu các loại diện tích gieo trồng 120 ha, năng xuất bình quân đạt 9,0 tạ/ha, sản lượng đạt 108 tấn; lạc 5 ha, năng xuất 10,2 tạ/ha, sản lượng đạt 5,1 tấn.
Nhìn chung, trình độ sản xuất, canh tác nông nghiệp của nhân dân đã có sự chuyển biến tích cực; sản lượng lương thực hàng năm đều tăng; tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt hạn chế một phận lớn hộ nông dân chưa áp dụng được các loại giống lúa mới có năng xuất cao, trình độ lâm canh cây lúa nước, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu chưa có hiệu quả, chưa tuân thủ lịch thời vụ gieo trồng, sâu bệnh diễn ra khá phổ biến dẫn đến năng suất, sản lượng chưa cao.    
Chăn nuôi:
          Tổng đàn gia súc, gia cầm tính đến năm 2014 như sau: Đàn trâu 220 con (giảm 4,3% so với năm 2011); dự kiến 2015 là 240 con, đạt 80% chỉ tiêu Nghị quyết (Nghị quyết 300 con), tăng 4,34% so với năm 2011; đàn bò 4.200 con, giảm 9,11% so với năm 2011; dự kiến 2015 là 4.500, đạt 56,25% chỉ tiêu Nghị quyết (Nghị quyết 8.000 con), giảm 2,61% so với năm 2011; đàn lợn 4.500 con (tăng 10,59% so với năm 2011); dự kiến 2015 là 5.000 con, tăng 22,88% so với năm 2011; đàn dê 450 con (giảm 28,11% so với năm 2011); dự kiến 2015 là 500 con; đàn gia cầm 18.000 con, dự kiến 2015 khoảng 20.000 con.
          Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của nhân dân tăng mạnh, bên cạnh đó tập quán chăn nuôi thả rông của người dân địa phương còn rất phổ biến, công tác phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm của người dân còn hạn chế, tình hình rét đậm, rét hại, nên dẫn đến tổng đàn gia súc, gia cầm giảm. 
c) Công tác khuyến nông - khuyến ngư: Diện tích nuôi trồng thủy sản hàng năm đạt trên 6 ha ao nuôi, sản lượng đạt được 90 tấn, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của nhân dân, chưa phát triển thành quy mô sản xuất hàng hóa. Đã chỉ đạo các ngành chức năng tổ chức, triển khai các lớp tập huấn, huấn luyện như: kỹ thuật sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cho nông dân, tập huấn nâng cao năng lực cho khuyến nông viên cơ sở, huấn luyện kỹ năng khuyến nông và kỹ thuật sản xuất cho nông dân chủ chốt; xây dựng mô hình trình diễn các loại giống, cây trồng vật nuôi theo quy trình kỹ thuật; triển khai thực hiện các mô hình cải tiến chăn nuôi trâu, bò, mô hình nông, lâm kết hợp. Nhìn chung, với việc triển khai thực hiện các mô hình này, hộ nông dân đã từng bước tiếp cận được với việc áp dụng khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất, chăn nuôi, bước đầu mang lại hiệu quả.
          c) Về lâm nghiệp: Diện tích rừng hiện có thực hiện đến năm 2014 là 9.300 ha, trong đó rừng tự nhiên là 8.800 ha, rừng trồng 500 ha; quản lý và bảo vệ rừng 9.300 ha; tỷ lệ che phủ rừng đạt 38,5%, ước thực hiện đến năm 2015 là 45,54%; diện tích rừng đã giao cho tổ chức, cá nhân khoanh nuôi, bảo vệ là 9.300 ha. Riêng năm 2015 ước thực hiện là 9.600 ha. Sản lượng lâm sản khai thác năm 2014 trên 280 tấn đó khô, dự kiến đến 2015 là 300 tấn đót khô; 150 tấn võ quế khô, ước thực hiện năm 2015 là 160 tấn quế, gỗ nguyên liệu khai thác đạt 6.000 tấn, ước thực hiện 2015 là 8.000 tấn; lồ ô khai thác là 200 ngàn cây, ước thực hiện năm 2015 là 220 ngàn cây.
Công tác trồng phân tán được chú trọng triển khai thực hiện, gồm các loại Bời lời đỏ, Huỳnh đàn đỏ, keo nguyên liệu chủ yếu là thực hiện từ Chương trình 30a của Chính phủ và chương trình 135 giai đoạn II, III…; công tác phòng cháy chữa cháy rừng tiếp tục được ngành chức năng tổ chức triển khai thực hiện cho 37 tổ, đội bảo vệ rừng ở 37 thôn; hàng năm tổ chức các buổi tuyên truyền pháp luật ở các thôn thu hút nhiều người tham dự. Việc khai thác gỗ và các sản phẩm dưới tán rừng đã hạn chế, công tác triển khai trồng rừng qua các năm được Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo các ngành, địa phương chuẩn bị tốt các phương án, thực hiện đúng thời vụ. Các ngành chức năng và địa phương đã tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, tổ chức nhiều đợt tuần tra, kiểm tra, truy quét trên địa bàn các địa phương và vùng giáp ranh, phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ 5.396 ha rừng (theo hồ sơ giao rừng tại Quyết định số 76/QĐ-UBND ngày 13/01/2012 của UBND tỉnh).  
          2. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
          Chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện công tác thống kê đất đai thường kỳ hành năm theo quy định của Luật đất đai và Thông tư số 08/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Công tác quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định phê duyệt. Tổ chức triển khai thực hiện hoàn thành công tác kê khai, đo vẽ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho các hộ trên địa bàn huyện là 2.926 Giấy, trong đó: đất ở và đất trồng cây lâu năm là 2.748 giấy, với diện tích 1.426.547,5 m2; đất giao khu tái định cư là 178 giấy, với diện tích 38.073,1 m2 và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn huyện theo Quyết định số 245/QĐ-UBND ngày 28/2/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với Nhà xuất bản tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam-Bộ Tài nguyên và Môi trường khảo sát thực địa để hoàn chỉnh hồ sơ cắm mốc địa giới hành chính cấp huyện, xã theo Chỉ thị số 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Tổ chức tiếp nhận và giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất 08 bộ hồ sơ theo quy định của Luật đất đai. Thu hồi đất để xây dựng 82 công trình cơ sở hạ tầng, với tổng diện tích thu hồi 2.035.409,68 m2. Đã chỉ đạo các lực lượng thường trực chốt chặn để ngăn chặn tình trạng nạn khai thác vàng sa khoáng trái phép trên địa bàn các xã Trà Quân, Trà Thanh, Trà Xinh và Trà Khê; xử phạt vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản, môi trường và đất đai đối với 13 tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép, nộp ngân sách nhà nước với số tiền 371 triệu đồng; cấp 13 giấy phép cho các tổ chức, cá nhân khai thác cát, sạn, đá chẻ làm vật liệu xây dựng thông thường theo quy định tại Quyết định số 49/2009/QĐ-UBND ngày 02/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Công tác môi trường đã thực hiện xây dựng 19 cụm panô tuyên truyền về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện, xây dựng 01 hố chôn lấp chất thải rắn và 27 thùng chứa rác công cộng trên địa bàn trung tâm huyện, tổ chức thực hiện tốt việc thu gom, vận chuyển rác thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực trung tâm huyện lỵ.
          Nhìn chung, công tác quản lý tài nguyên và môi trường đã được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ có hiệu quả; công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và đất sản xuất được triển khai đúng tiến độ theo kế hoạch đề ra; công tác xử lý môi trường được triển khai kịp thời. Tuy nhiên, tồn tại hiện nay tình trạng khai thác vàng sa khoáng trái phép trên địa bàn các xã vẫn còn diễn ra, tình trạng tự ý khai thác trái phép khoáng sản như cát, sạn để làm vật liệu xây dựng thông thường của một số tổ chức, cá nhân chưa xử lý triệt để.
3. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng , thương mại và dịch vụ
          a) Về công nghiệp – Xây dựng: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp-xây dựng (theo giá so sánh năm 2010) ước thực hiện đến năm 2015 đạt 72.479 triệu đồng, tăng 27,08% so với năm 2011; bình quân hàng năm đạt 54.212 triệu đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 6,17%. Tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 33,5% trong tổng cơ cấu giá trị sản xuất.
          b) Về thương mại, dịch vụ: Giá trị sản xuất ngành thương mại, dịch vụ (theo giá so sánh năm 2010) ước thực hiện đến năm 2015 đạt 84.633 triệu đồng, tăng 71,1% so với năm 2011; bình quân hàng năm đạt 69.441,2 triệu đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 14,37%. Tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ chiếm 39,1% trong tổng cơ cấu giá trị sản xuất.  
          4. Về tín dụng, thu, chi ngân sách:
          a) Về thu, chi ngân sách:
          - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2014 bình quân hàng năm 154.540 triệu đồng/năm; trong đó: thu thuế trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2014 bình quân hàng năm đạt 3.390 triệu đồng/năm, tăng 34,04% so với năm 2011. Riêng năm 2015 tổng thu ngân sách bình quân ước thực hiện là 174.134 triệu đồng/năm.
          - Tổng chi ngân sách nhà nước giai 2011-2014 đạt 721.928 triệu đồng, bình quân hàng năm đạt 154.540 triệu đồng, tăng 35,93% so với năm 2011; trong đó: chi đầu tư phát triển 15.148 triệu đồng, chi thường xuyên 139.392 triệu đồng. Ước thực hiện đến năm 2015 là  896.060 triệu đồng, bình quân hàng năm đạt 158.458 triệu đồng/năm, tăng 39,41% so với năm 2011.
          b) Về tín dụng cho vay các chương trình đối với hộ nghèo: Doanh số cho vay các chương trình tín dụng giai đoạn 2011-2015 ước đạt 45.110 triệu đồng; tổng dư nợ các chương trình tín dụng là 37.000 triệu đồng; doanh số thu nợ ước đạt được 37.828 triệu đồng. Trong đó tính đến năm 2014: với 2.707 hộ vay dư nợ, cho vay theo hộ nghèo 24.023 triệu đồng; cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh 6.135 triệu đồng; cho vay giải quyết việc làm 852 triệu đồng; cho vay học sinh-sinh viên 1.082 triệu đồng; cho vay xuất khẩu lao động 2.710 triệu đồng; cho vay chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn 80 triệu đồng; chương trình cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn 596 triệu đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở ( theo Quyết định 167) là 6.576 triệu đồng; cho vay hộ cận nghèo là 1.690 triệu đồng. Nợ xấu tính ước thực hiện đến năm 2015 là 250 triệu đồng, chiếm 0,67%/tổng dư nợ các chương trình tín dụng.
5. Về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản: Tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2011-2014 là 172.262,207 triệu đồng; trong đó: nguồn vốn tỉnh phân cấp về cho huyện quản lý là 60.448,5 triệu đồng để thực hiện 85 công trình, cùng với việc lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu khác mạng lưới giao thông từ huyện xuống xã đã được đầu tư đưa vào kế hoạch đầu tư thâm nhập nhựa 8/9 xã có đường nhựa hóa đến Trung tâm xã; các tuyến đường từ huyện về xã đến thôn được thông suốt; Hệ thống thủy lợi được làm mới và sửa chữa ổn định phục vụ tưới tiêu cho 467 ha ruộng lúa nước, trong đó: (tưới bằng công trình kiên cố là 65 ha); số phòng học kiên cố, nhà ở công vụ giáo viên được đầu tư xây dựng tăng thêm, đặc biệt điện lưới quốc gia đã đến trung tâm 9/9 xã. Đến nay có 100% số xã có điện ở trung tâm xã và gần 95% số hộ dân các xã được sử dụng điện.
Việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đã chú trọng gắn với việc Quy hoạch bố trí dân cư; xây dựng hạ tầng kỹ thuật về điện, đường, trường, trạm kết hợp với công tác định canh, định cư. Việc đầu tư được thực hiện từ dưới lên theo nhu cầu của người dân, đồng thời tăng cường trách nhiệm của cấp ủy và chính quyền địa phương các cấp và có sự tham gia giám sát của người dân, nên các công trình đã mang lại hiệu quả.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn huyện đạt 430.579,921 triệu đồng. 
6. Thực hiện các chương trình, dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia và chính sách dân tộc miền núi
a) Chương trình 167: Tổng nguồn vốn thực hiện từ năm 2011 đến năm 2014 để hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167 trên địa bàn huyện là 22.487,4 triệu đồng (trong đó: vốn vay tại ngân hàng chính sách xã hội là 6.576 triệu đồng, vốn ngân sách Trung ương và tỉnh và các doanh ngiệp là 15.911,4 triệu đồng) để thực hiện xây mới 961 ngôi nhà cho hộ nghèo trên địa bàn huyện
b) Chương trình 135 giai đoạn III: Tổng nguồn vốn hỗ trợ từ Chương trình 135 giai đoạn II trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2014 là 32.388,327 triệu đồng, trong đó: vốn đầu tư cơ sở hạ tầng 25.622,519 triệu đồng để triển khai xây dựng 31 công trình (01 công trình nước sinh hoạt, 12 công trình giao thông, 04 công trình thủy lợi, 01 công trình điện sinh hoạt, 13 nhà sinh hoạt cộng đồng); vốn duy tu bảo dưỡng 1.957 triệu đồng để thực hiện 16 công trình (05 công trình thủy lợi, 01 công trình nước sạch, 10 công trình đường giao thông nông thôn); dự án đào tạo cán bộ đã tổ chức mở lớp tập huấn cho các đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp xã, cán bộ không chuyên trách cấp xã, thôn với 907 người tham gia tập huấn, với kinh phí 540 triệu đồng; dự án hỗ trợ phát triển sản xuất tổng vốn đầu tư 4.808,268 triệu đồng để thực hiện các danh mục hỗ trợ các loại cây trồng, vật nuôi như: keo giống, chuối, quế giống, bò giống, heo giống và công cụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
c) Thực hiện Chương trình 30a của Chính phủ: Tổng nguồn vốn 30a thực hiện giai đoạn 2010-2014 là 196.991,987 triệu đồng, trong đó: vốn đầu tư cơ sở hạ tầng thực hiện 37 công trình với tổng mức đầu tư là 154.326,782 triệu đồng (trong đó: thực hiện đầu tư 06 trạm Y tế xã, 09 công trình trường học, 07 công trình giao thông, 04 công trình thủy lợi, 04 công trình di dời sạt lở khu dân cư, 07 công trình điện sinh hoạt và 01 công trình Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Hướng nghiệp-Dạy nghề huyện); vốn sự nghiệp 35.248,205 triệu đồng, thực hiện các hạng mục hỗ trợ, gồm: hỗ trợ chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng và trồng rừng, hỗ trợ hộ nghèo về gạo, giống, cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm, đào tạo, dạy nghề, tập huấn huấn luyện sản xuất nông, lâm nghiệp, Quy hoạch sản xuất nông, lâm ngư nghiệp, khai hoang phục hóa; vốn duy tu bão dưỡng 7.417 triệu đồng (trong đó: thực hiện duy tu, bảo dưỡng 03 công trình thủy lợi, 11 công trình giao thông, 01 công trình Trạm y tế xã, 14 công trình giáo dục).  
d) Vốn viện trợ của Liên minh Châu âu, Chính phủ Ailen, vốn Chính phủ Phần Lan, vốn Ngân hàng Thế giới  tài trợ là 6.450 triệu đồng, các nguồn vốn hỗ trợ này đã được Ủy ban nhân dân huyện phân bổ cho các cơ quan, đơn vị để thực hiện đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng tại các địa phương, gồm: 02 công trình nước sinh hoạt (trong đó: 01 công trình nước sinh hoạt tại tổ 3, thôn Bắc Nguyên, xã Trà Thọ; 01 công trình nước sinh hoạt tại tổ 3, tổ 4, thôn Trà Xuông, xã Trà Quân); 01 công trình Trường Trung học cơ sở xã Trà Lãnh.
đ) Chương trình trợ cước, trợ giá và cấp không thu tiền các mặt hàng thiết yếu: Hằng năm đã chỉ đạo tổ chức thực hiện kịp thời chính cấp không thu tiền các mặt hàng thiết yếu (nước nắm, dầu ăn, bột ngọt) cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số triên địa bàn huyện trong các dịp tết Nguyên đán hàng năm với tổng số hộ được thụ hưởng là 12.907 lượt hộ đảm bảo đúng số lượng, chất lượng, với tổng kinh phí 1.344,44 triệu đồng; chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân theo Quyết định 102/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng số hộ đuộc thụ hưởng 9.347 hộ, kinh phí 4.420,4 triệu đồng để hỗ trợ muối iốt, quế giống và keo giống; Hỗ trợ bằng tiền tương đương 05 lít dầu lửa/năm cho 1.271 hộ chưa có điện thắp sáng theo Quyết định số 289/QĐ-TTg với kinh phí 190,9 triệu đồng. Hỗ trợ tiền điện cho 2.989 hộ nghèo theo Quyết định số 2049/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với kinh phí 538,02 triệu đồng. Tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ tiền ăn cho trẻ em 5 tuổi, trẻ em từ 3 - 4 tuổi, chính sách cấp bù học phí và hỗ trợ chi phí học tập, chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, với tổng kinh phí 12.919 triệu đồng; Tổ chức bình xét người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ, kết quả bình xét có 37 người/37 thôn và thực hiện hỗ trợ với kinh phí 153 triệu đồng.
7. Chương trình xây dựng nông thôn mới:
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Ủy ban nhân dân huyện đã phê duyệt xong đồ án quy hoạch chung 9/9 xã giai đoạn 2011-2020; đồng thời, phê duyệt xong Đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới 9/9 xã; chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã khẩn trương hoàn thành lập đề án quy hoạch chi tiết xây dựng nông thôn mới trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt để triển khai thực hiện. Tính đến năm 2014 có 9/9 xã đạt tiêu chí về “an ninh trật tự xã hội”; nhóm các tiêu chí đạt từ 71 - 90% có 01 xã đạt 04 tiêu chí (xã Trà Thanh), 01 xã đạt 03 tiêu chí (xã Trà Lãnh).
8. Về phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội miền núi: Tình hình phát triển đô thị miền núi theo Nghị quyết số 21/2011/NQ-H ĐND ngày 22/7/2011 của HĐND tỉnh; Quyết định số 214/QĐ-UBND ngày 26/10/2011 của UBND tỉnh về đề án phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
          -  Công tác Quy hoạch chung Trung tâm huyện lỵ Tây Trà đến nay huyện đang trình UBND tỉnh phê duyệt và công bố trong quí IV/2014; Về Quy hoạch phân khu đô thị theo đề án quy hoạch điều chỉnh mở rộng Trung tâm huyện lỵ Tây Trà với quy mô diện tích 585 ha được chia thành 2 giai đoạn từ (2014-2020 và 2020-2025) hiện chưa được phê duyệt.
          - Đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông giai đoạn từ năm 2011-2014 thực hiện 03 công trình đường giao thông; 05 công trình điện sinh hoạt, điện thắp sáng và 01 công trình hệ thống đường điện chiếu sáng Trung tâm huyện lỵ Tây Trà) với tổng mức đầu tư 22.737 triệu đồng.
- Về phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch: Định hướng phát triển giai đoạn 2015-2020. Xây dựng các điểm khu Du lịch sinh thái Cà Đam với quy mô 1.000 ha; xây dựng tái tạo các điểm di tích lịch sử thuộc quần thể di tích Quốc gia cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, khuyến khích và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư xây dựng nhà hàng, cơ sở lưu trú phục vụ và thu hút khách Du lịch.

- Kết cấu hạ tầng Y tế, giáo dục, dạy nghề, văn hóa, thể dục-thể thao: Tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn huyện đã đầu tư xây dựng mới được 6/9 xã có trạm Y tế và 01 Bệnh viện đa khoa với 50 giường bệnh; có 25 cơ sở giáo dục Mầm non, Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học cơ sở; 01 trường phổ thông trung học và 01 trường Trung học cơ sở dân tộc nội trú huyện, 01 trung tâm Giáo dục thường xuyên Hướng nghiệp-Dạy nghề huyện; 16 nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, 01 công trình nhà văn hóa xã và 01 công trình nhà văn hóa cấp huyện.   

  Thông tin, thông báo
   Phim, tư liệu
   Xem tất cả  
  Các tin xem nhiều nhất
   Liên kết web
   Thăm dò ý kiến
Bạn thấy webiste này như thế nào?
Rất đẹp
Đẹp
Cũng tạm
Bình thường
Xấu
  Các dịch vụ cộng đồng
   Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 415538
Đang trực tuyến: 298